Thứ tư, ngày 24 tháng 06 năm 2026
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Trong tháng:

Trong quý:

Cả năm:

Cập nhật lúc: 24/06/2026

Báo cáo tình hình Kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng năm 2026

Tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán, đặc biệt là xung đột vũ trang ở khu vực Trung Đông đã tác động mạnh đến giá nguyên nhiên vật liệu trên thế giới, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Đối với tỉnh Đắk Lắk, tình hình kinh tế - xã hội trong tháng 5 và 5 tháng năm 2026 vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực. Sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định, diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân 2025-2026 vượt kế hoạch, tổng đàn chăn nuôi và sản lượng nuôi trồng thủy sản duy trì tăng trưởng; công tác thủy lợi, phòng, chống thiên tai được triển khai hiệu quả. Lĩnh vực công nghiệp tiếp tục phục hồi và tăng trưởng khá, chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ; thương mại, dịch vụ duy trì đà phát triển, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng tốt, hoạt động du lịch khởi sắc. Thu ngân sách nhà nước liên tục vượt kế hoạch; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, nhiều nhà đầu tư chiến lược quan tâm và tiếp cận đầu tư; số lượng doanh nghiệp thành lập mới duy trì đà tăng trưởng. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội được quan tâm, an sinh xã hội được bảo đảm; giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số có nhiều chuyển biến tích cực. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác cải cách hành chính và quản lý nhà nước tiếp tục được tăng cường.

Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tiếp tục chịu nhiều áp lực do giá nguyên, nhiên vật liệu và chi phí logistics tăng cao, làm giảm sức cạnh tranh và ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các đơn hàng đã ký kết, nhất là trong các ngành chế biến, xuất khẩu. Số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động còn ở mức cao. Dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, gây thiệt hại cho người chăn nuôi, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 còn thấp. Tình trạng cháy nổ, thiên tai vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh.

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng 5, ngành nông nghiệp tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng ổn định, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế địa phương. Nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu tăng cao là động lực chính thúc đẩy sản xuất, đồng thời các chính sách hỗ trợ và ứng dụng công nghệ mới đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Sản xuất vụ Đông xuân diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi; hệ thống kênh mương được nâng cấp, gia cố đã đảm bảo đầy đủ nguồn nước tưới, tạo tiền đề tốt cho năng suất cây trồng.

Cây lâu năm cũng cho thấy những tín hiệu khả quan với sự tăng trưởng về diện tích của cà phê, sầu riêng, và tiêu. Nguồn nước tưới được đảm bảo trong mùa khô và việc nông dân chủ động ứng phó với các đợt mưa đầu mùa cũng là yếu tố quan trọng.

Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Các hoạt động phòng chống dịch bệnh được triển khai quyết liệt; các cơ quan chuyên môn đã kịp thời giám sát và hướng dẫn người dân xử lý các ổ dịch phát sinh trên cây trồng và đàn vật nuôi, không để lây lan trên diện rộng.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, tỉnh chú trọng công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng trong giai đoạn giao mùa, đồng thời đẩy mạnh kế hoạch trồng rừng tập trung và cây phân tán.

Ngành thủy sản tiếp tục đà tăng trưởng ổn định, đóng góp tích cực vào kinh tế địa phương. Điểm sáng nổi bật là sự chuyển biến rõ nét trong tư duy sản xuất của người dân nuôi trồng thủy sản, với việc đầu tư công nghệ và áp dụng các mô hình bền vững, thân thiện với môi trường đã giúp nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, Chương trình Nông thôn mới và OCOP ghi nhận nhiều kết quả thực chất, với hàng trăm sản phẩm đạt chuẩn từ 3 đến 5 sao, góp phần nâng cao giá trị nông sản và thu nhập cho người dân nông thôn.

1.1. Sản xuất cây hàng năm

Lúa Đông xuân: Tính đến ngày 20/5/2026, toàn tỉnh gieo trồng được 76.956 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện nay lúa vụ Đông xuân đã cơ bản thu hoạch xong với năng suất ước đạt 76 tạ/ha, giảm 0,93 tạ/ha so với vụ Đông xuân năm trước.

Cùng với việc thu hoạch lúa Đông xuân, các địa phương trên toàn tỉnh đã gieo trồng được: Ngô 5.705 ha, tăng 1,69%; khoai lang 2.647 ha, tăng 4,62%; đậu tương 40 ha, giảm 3,8%; lạc 664 ha, tăng 2,15%; rau các loại 9.050 ha, tăng 1,67%; đậu các loại 2.079 ha, tăng 4,05% so với cùng kỳ năm trước.

KTXH1

Nhìn chung việc sản xuất vụ Đông xuân năm nay tương đối thuận lợi về thời tiết, kênh mương dẫn nước được gia cố cải tạo đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng.

Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng[1]. Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường.

1.2. Cây lâu năm

Hiện nay, các địa phương đang tập trung cắt cành tạo tán và tưới đợt 4, nguồn nước tưới cho cây cà phê và các loại cây ăn quả trong mùa khô vẫn được đảm bảo đầy đủ. Tại thời điểm này một số địa phương đã có mưa đầu mùa phần nào đã giải khát cho cây cà phê. Diện tích một số cây trồng chính như sau: Cà phê 217.654 ha, tăng 1,58%; cao su 33.151 ha, giảm 0,61%; tiêu 28.804 ha, tăng 1,78%; điều 26.408 ha, giảm 4,27%; sầu riêng 41.821 ha, tăng 5,76%.

KTXH2

Tình hình sâu bệnh trên cây công nghiệp lâu năm: Thời điểm hiện nay là thời tiết đang trong giai đoạn chuyển từ mùa khô sang mùa mưa. Độ ẩm không khí bắt đầu tăng cao kết hợp với các đợt mưa rào đầu mùa tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại nấm bệnh và côn trùng gây hại bùng phát trên diện rộng. Dù có mưa nhưng việc chủ động nước tưới cho cây lâu năm (đặc biệt là cà phê, sầu riêng) vẫn là ưu tiên hàng đầu để đảm bảo năng suất. Các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng[2].

1.3. Công tác chăn nuôi, thú y 

Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, tổng đàn vật nuôi được duy trì, sản lượng sản phẩm chăn nuôi tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước đáp ứng nhu cầu trong các dịp lễ trong tháng. Công tác tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc khử trùng, kiểm dịch động vật và giám sát dịch bệnh được triển khai theo kế hoạch. Tuy nhiên, dịch bệnh trên động vật vẫn tiềm ẩn nguy cơ, đặc biệt là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi và bệnh Dại trên động vật vẫn xảy ra trên một số địa bàn trong tỉnh[3]. Trong thời gian tới cần tiếp tục tăng cường tiêm phòng, giám sát dịch bệnh và thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh.

Tình hình chăn nuôi trong tháng 05/2026 như sau: Ước số lượng đàn trâu có 27.405 con, giảm 8,69%; Đàn bò hiện có 377.179 con, giảm 5,16% (trong đó, đàn bò sữa 5.009 con, tăng 7,91%); Đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) hiện có 1.045.457 con, tăng 1,89%; Đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) hiện có 22.746 ngàn con, tăng 4,96% (trong đó, đàn gà 18.994 ngàn con, tăng 2,42%) so với cùng kỳ năm trước.

KTXH3

Công tác kiểm dịch: Trong tháng 05/2026, Chi cục thú y đã kiểm dịch xuất tỉnh được 678.764 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Trâu 40 con, bò 218 con, heo 42.791 con, gà 594.985 con, vịt + ngan 40.430 con. Lũy kế kiểm dịch xuất tỉnh 5 tháng đầu năm 2026 gần 6,3 triệu con.

Kiểm dịch nhập tỉnh tháng 05/2026 được 1.404.704 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Trâu 1 con, bò 1.129 con, heo 41.395 con, gà 965.692 con, vịt + ngan 396.487 con; thịt trâu bò 896 kg, thịt gia cầm 21.882 kg, thịt heo 17.597 kg; Kiểm soát giết mổ được 15.665 con; Gia súc, gia cầm xuất, nhập tỉnh với mục đích chăn nuôi (xuất tỉnh: Bò 198 con, heo 20.711 con, gà 535.920 con; nhập tỉnh: Heo 34.671 con, gà 965.692 con, vịt + ngan 396.487 con). Lũy kế kiểm dịch nhập tỉnh 5 tháng năm 2026 hơn 9,5 triệu con.

1.4. Lâm nghiệp

Tháng 5/2026, tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có sự phát triển ổn định, với kết quả trồng rừng và khai thác lâm sản đều ghi nhận mức tăng trưởng nhẹ. Đồng thời, công tác quản lý và bảo vệ rừng được nâng cao với việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng và đảm bảo sự bền vững của ngành lâm nghiệp tại địa phương.

Phát triển rừng: Ước diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng khoảng 158 ha, tăng 1,94%. Lũy kế 5 tháng đầu năm trồng được 1.556 ha, tăng 3,87% so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng 5 ước khoảng 0,31 ngàn cây, tăng 3,3%. Lũy kế 5 tháng trồng được 1,04 ngàn cây, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Các công ty lâm nghiệp và các đơn vị đã và đang tiến hành làm đất, giống để chuẩn bị cho kế hoạch công tác đăng ký trồng rừng năm 2026. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang nghiệm thu kết quả trồng cây phân tán năm 2025 trên địa bàn tỉnh từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường.

Khai thác lâm sản: Ước sản lượng gỗ khai thác trong tháng 05 trên địa bàn tỉnh đạt 82.250 m3 gỗ, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác được 267.471 m3, tăng 1,95% chủ yếu sản lượng gỗ nguyên liệu giấy trong nhân dân.

KTXH4

Quản lý bảo vệ rừng: Các cấp, các ngành tăng cường các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao trách nhiệm trong quản lý rừng tự nhiên; tập trung chỉ đạo các chủ rừng thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phát triển rừng; đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản.

Trong tháng 5 năm 2026, trên địa bàn tỉnh lực lượng Kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chủ rừng và các ngành chức năng phát hiện và lập biên bản để xử lý các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp gồm 85 vụ, trong đó: 68 vụ với diện tích rừng bị phá là 20,17 ha, vi phạm chung các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng 02 vụ; vận chuyển lâm sản trái pháp luật 09 vụ; tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật 06 vụ. Tang vật vi phạm gồm: Phương tiện, máy móc, công cụ tạm giữ 29 loại; 30,23 m3 gỗ các loại; 77,01 ster củ; 305 cây và 5.200 kg lâm sản các loại. Đã xử lý 65 vụ, trong đó: Xử phạt vi phạm hành chính 65 vụ; số tiền thu sau xử lý đã nộp ngân sách nhà nước 87,4 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng số vụ vi phạm 352 vụ; lâm sản tịch thu gồm: 116,414 m3 gỗ các loại; củi các loại 278,50 ster; 10.420 cây và 12.750kg lâm sản khác; phương tiện, công cụ, dụng cụ tịch thu 107 chiếc các loại; tổng các khoản thu 672,325 triệu đồng, tổng số tiền đã nộp ngân sách 624,325 triệu đồng.

1.5. Thủy sản

Tháng 5/2026, ngành thủy sản tỉnh Đắk Lắk tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, đóng góp tích cực vào cơ cấu kinh tế nông nghiệp của địa phương, đặc biệt đánh bắt thủy sản biển chiếm tỷ trọng lớn nhất. Điểm nổi bật là lĩnh vực nuôi trồng có sự chuyển biến tích cực về tư duy sản xuất, giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao.

Về khai thác, sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ hải sản trong nước và xuất khẩu từ quý I đã tạo động lực mạnh mẽ để ngư dân tăng cường đánh bắt, đưa sản lượng khai thác biển và nội địa tăng trưởng ổn định so với cùng kỳ. Đặc biệt, lĩnh vực nuôi trồng ghi nhận sự chuyển biến rõ nét trong tư duy sản xuất của người dân. Việc không ngừng đầu tư công nghệ và áp dụng các mô hình nuôi thương phẩm bền vững, thân thiện với môi trường không chỉ giúp nâng cao sản lượng mà còn đảm bảo chất lượng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.

KTXH5

Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 5/2026 ước đạt hơn 16.282 tấn, tăng 4,76% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng năm 2026 ước đạt 50.847,5 tấn tăng 5,85%. Trong đó:

- Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 5/2026 ước đạt 10.034,7 tấn, tăng 4,95% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 9.445,1 tấn, tăng 4,9%, (trong đó: Cá ngừ đại dương 621 tấn, tăng 5,56%, chiếm 6,57% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển); tôm 50,5 tấn, tăng 5,5%; thủy sản khác 539,1 tấn, tăng 5,62%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 38.595,8 tấn, tăng 6,55% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá đạt 32.385,9 tấn, tăng 2,39%; tôm đạt 282,4 tấn, tăng 51,36%; thủy sản khác đạt 5.927,5 tấn, tăng 34,49%.

- Sản lượng thủy sản khai thác nội địa tháng 5/2026 ước đạt 534,5 tấn, tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.177,4 tấn, tăng 4,25%.

- Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 5/2026 ước đạt 5.712,8 tấn, tăng 4,22% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 3.030,1 tấn, tăng 5,26%; tôm (chủ yếu tôm sú và tôm thẻ chân trắng) đạt 2.551,3 tấn, tăng 3,18%; thủy sản khác đạt 131,4 tấn, tăng 1,15%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.074,3 tấn, tăng 3,67% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá 6.111,7 tấn, tăng 3,86%; tôm 4.790,7 tấn, tăng 3,51%; thủy sản khác đạt 171,9 tấn, tăng 1,66%.

1.6. Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM)

Các ngành, địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), bảo đảm tiến độ và chất lượng theo kế hoạch đề ra. Đến nay, toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 29,55% và 764 sản phẩm OCOP của 372 chủ thể (trong đó, có 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao, 656 sản phẩm đạt 3 sao, 43 sản phẩm hết hạn, 2 sản phẩm bị thu hồi).

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng khá. Các ngành công nghiệp cấp I đều ghi nhận xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 14,09% tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, là động lực chính của tăng trưởng toàn ngành.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 5/2026 ước tính tăng 21,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 15,76%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 23,61%[4]; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,79%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,77%.

KTXH6

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 5 tháng đầu năm 2026 ước tính tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 11,69% (sản phẩm đá xây dựng khác 950.387,1 m3, tăng 9,55% so với cùng kỳ năm trước). Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,38%; tăng ở nhiều ngành công nghiệp chủ lực như: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 30,26% (thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên 687,4 triệu viên, tăng 30,26%); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 21,16% (vỏ bào, dăm gỗ 72.369 tấn, tăng 13,81%); sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,71% (cá ngừ đóng hộp 3.103,4 tấn, tăng 19,42%; cà phê bột các loại 26.439,6 tấn, tăng 23,42%; hạt điều khô 46.764,5 tấn, tăng 11,35%); sản xuất đồ uống tăng 13,58% (bia đóng chai 30.389,8 nghìn lít, tăng 2,38%); sản xuất trang phục tăng 2,13% (quần áo dệt kim, đan móc cho người lớn 7.650,8 nghìn cái, tăng 7,73%). Ở chiều ngược lại, ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 8,55%, góp phần hạn chế mức tăng chung của toàn ngành. Chỉ số ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,10% (điện sản xuất đạt 3.860,6 triệu kWh, tăng 14,34%[5]; điện thương phẩm 1.774,0 triệu kWh, tăng 10,18%). Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,05% (nước uống được 26.579,3 nghìn m3, tăng 12,06%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế 63.698,3 triệu đồng, tăng 6,04%).

KTXH7

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2026 tăng 0,30% so với tháng trước và giảm 1,69% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp không có nhiều biến động nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động giảm 0,35% so với cùng kỳ năm trước; xét theo loại hình doanh nghiệp, lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,40%, tiếp tục là khu vực có mức tăng cao nhất; khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 7,65% và khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 3,95% so với cùng kỳ năm trước; xét theo ngành công nghiệp cấp I, lao động tăng ở ngành khai khoáng (tăng 7,26%), ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (tăng 5,28%) và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (tăng 1,71%); riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,11% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình sử dụng lao động giữa các ngành và loại hình doanh nghiệp có sự phân hóa, song biến động không lớn, phản ánh hoạt động sản xuất công nghiệp cơ bản duy trì ổn định.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh từng bước phục hồi. Nhiều doanh nghiệp chủ động thích ứng với biến động thị trường thông qua tối ưu hóa chi phí sản xuất, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu và linh hoạt tổ chức sản xuất, góp phần giữ vững tăng trưởng của toàn ngành. Bên cạnh đó, một số dự án năng lượng tái tạo tiếp tục được hoàn thiện thủ tục để sớm đưa vào vận hành thương mại đã tạo thêm động lực cho ngành công nghiệp điện.

Tuy nhiên, khu vực công nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, căng thẳng thương mại và bất ổn địa chính trị tiếp tục làm gia tăng chi phí nguyên nhiên vật liệu và logistics, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp tục là rào cản đối với quá trình đổi mới công nghệ và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật tại một số khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông, logistics và xử lý nước thải tập trung, làm giảm khả năng thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Một số nhà máy chế biến nông sản chủ lực vẫn hoạt động chưa hết công suất do thiếu hụt nguyên liệu, lao động và ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ. Vì vậy, để duy trì đà tăng trưởng bền vững, cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, vốn và nguồn nguyên liệu, đồng thời nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của thị trường.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 02 cụm công nghiệp (Krông Năng, Cư Bao) đang trong giai đoạn đánh giá đề nghị đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đang được tổ chức thẩm định theo quy định. Ngoài ra, có 03 cụm công nghiệp (cụm công nghiệp Tân An 1 và 2, Ea Đar) đã hoàn thành xây dựng và cơ bản đảm bảo các thủ tục để vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung. Trong kỳ, cụm công nghiệp Krông Buk 1 đã đầu tư cơ bản hoàn thành, hiện đang thực hiện vận hành kỹ thuật, kết nối dữ liệu quan trắc môi trường online và hoàn thiện thủ tục cấp phép môi trường; cụm công nghiệp Cư Kuin đã hoàn thành trên 60% khối lượng, dự kiến hoàn thành trước ngày 15/6/2026.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính minh bạch và thuận lợi trong hoạt động kinh doanh; đẩy mạnh các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong tháng 5/2026, tỉnh đã tổ chức diễn đàn “Cà phê doanh nhân” nhằm trao đổi thông tin, nắm bắt khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, qua đó tiếp tục khẳng định tinh thần đồng hành, hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với cộng đồng doanh nghiệp

Trong tháng 5/2026, ước có 300 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước), với số vốn đăng ký khoảng 2.000 tỷ đồng (giảm 73,33%); có 40 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 11,11%). Bên cạnh đó, có 60 doanh nghiệp giải thể (tăng 46,34%) và 75 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 15,38%). Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có khoảng 1.700 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 84,18% so với cùng kỳ năm trước), với tổng vốn đăng ký khoảng 12.000 tỷ đồng (giảm 43,24%); có 370 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 15,99%). Trong khi đó, có 350 doanh nghiệp giải thể (gấp 2,29 lần so với cùng kỳ năm trước) và 1.050 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 9,26%).

KTXH8

Trong 5 tháng đầu năm 2026, hoạt động đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục có chuyển biến tích cực khi số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước, cho thấy niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký giảm mạnh, cùng với số doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động vẫn ở mức cao, phản ánh nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn về thị trường, nguồn vốn và khả năng duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, tỉnh cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực quản trị, góp phần củng cố sức chống chịu và thúc đẩy phát triển bền vững khu vực doanh nghiệp trên địa bàn.

4. Đầu tư

Tỉnh tập trung chỉ đạo quyết liệt, đôn đốc các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, đấu thầu và thi công; đồng thời, tăng cường tổ chức các buổi làm việc để rà soát, xử lý dứt điểm các dự án, công trình chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong giải ngân, phấn đấu nâng cao tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của tỉnh trong thời gian tới.

Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 5/2026 ước đạt 950,5 tỷ đồng, tăng 10,83% so với tháng trước, giảm 8,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn cấp tỉnh 933,3 tỷ đồng, tăng 10,95% so với tháng trước và giảm 8,92% so với cùng kỳ năm trước; nguồn vốn cấp xã thực hiện 17,2 tỷ đồng, tăng 4,65% so với tháng trước và tăng 8,13% so với cùng kỳ năm trước.

KTXH9

Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn ước đạt 4.069,5 tỷ đồng, bằng 28,44% kế hoạch năm, giảm 6,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 3.995,5 tỷ đồng, chiếm 98,18% tổng nguồn vốn, giảm 7,07% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 74,0 tỷ đồng, chiếm 1,82% tổng nguồn vốn, giảm 1,29% so với cùng kỳ năm trước.

Về kết quả giải ngân: Tính đến hết ngày 26/5/2026, kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 đã giải ngân 1.075,546 tỷ đồng, đạt 11,27 % kế hoạch. Trong đó: Ngân sách trung ương đã giải ngân 201,295 tỷ đồng, đạt 9,05% kế hoạch; ngân sách địa phương đã giải ngân 874,251 tỷ đồng, đạt 11,84 % kế hoạch.

Về tình hình triển khai thực hiện các dự án trọng điểm và các dự án Trung ương đầu tư trên địa bàn tỉnh:

+ Đối với Dự án thành phần 3 thuộc Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột (giai đoạn 1), khối lượng thi công dự án đến nay đạt 96,56%; tỉnh đang tập trung chỉ đạo hoàn thiện các hạng mục còn lại để bảo đảm tiến độ theo kế hoạch.

+ Dự án đầu tư xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025, đoạn qua địa bàn tỉnh: Hiện nay, tỉnh đang tập trung phối hợp, giải quyết các tồn tại trong quá trình thi công, khối lượng thi công đã đạt khoảng 98,1% giá trị hợp đồng.

+ Đối với Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đoạn qua địa bàn tỉnh: UBND tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng để tăng cường chỉ đạo, điều phối và tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai. Đến nay, đã rà soát khoảng 5.589 ngôi nhà, thửa đất bị ảnh hưởng, với khoảng 3.025 hộ thuộc diện tái định cư; nhu cầu vốn GPMB cho dự án khoảng 12.245 tỷ đồng, kế hoạch bố trí năm 2026 khoảng 4.000 tỷ đồng. Hiện nay, các khu tái định cư đang hoàn thiện quy hoạch chi tiết; công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đang được các Ban Quản lý dự án đẩy nhanh tiến độ để dự án tổ chức thi công[6]. Đồng thời, giao BQL Khu kinh tế Phú Yên nghiên cứu phát triển đô thị TOD khu vực ga Hòa Thành. Hiện nay, Sở Xây dựng đang phối hợp với Sở Tư pháp tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết quy định chi tiết về quy hoạch khu vực TOD trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để làm cơ sở lập quy hoạch khu vực TOD Hòa Thành.

Tình hình thu hút đầu tư: Tỉnh tổ chức tiếp và làm việc trực tiếp với các Tập đoàn lớn trong và ngoài nước khảo sát tiềm năng đầu tư của tỉnh như: cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Đà Nẵng để trao đổi hợp tác trong hoạt động xúc tiến, thu hút nguồn vốn đầu tư vào các dự án trọng điểm, tài chính xanh trên địa bàn tỉnh và Khu Kinh tế Nam Phú Yên; Tập đoàn Samsung và Tập đoàn Sun Group khảo sát đầu tư tại khu vực phía Đông tỉnh; Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel (Viettel Post) về đề xuất về đầu tư xây dựng hạ tầng logistics trên địa bàn tỉnh (cảng cạn ICD)…Đặc biệt tổ chức thành công chuyến công tác của tỉnh đi Các Tiểu vương quốc Ả - rập Thống nhất (UAE) tham dự phiên họp toàn thể Kỳ họp lần 6 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam - UAE và giới thiệu về tiềm năng và cơ hội đầu tư tại tỉnh với các cơ quan về quản lý thương mại và các tập đoàn năng lượng, thực phẩm hàng đầu của UAE. Bên cạnh đó, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 03 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 610 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 04 dự án. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 12 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 5.090,9 tỷ đồng; điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 28 dự án, trong đó có 03 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng mức tăng 817,5 tỷ đồng.

5. Tài chính, ngân hàng

Tài chính: Tỉnh đã tập trung Tăng cường công tác quản lý, triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng thu ngân sách nhà nước. Chi ngân sách vẫn đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước; đảm bảo an sinh xã hội.

- Thu ngân sách nhà nước: Ước tính 5 tháng năm 2026, tổng thu NSNN đạt 7.698.000 triệu đồng, đạt 44,98% dự toán TW và đạt 42,53% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 8,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó

thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất và sổ xố kiến thiết)

ước đạt 5.904.058 triệu đồng, đạt 53,34% dự toán TW và đạt 51,51% dự toán HĐND tỉnh, tăng 5,97%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 2.948.262 triệu đồng, đạt 61,04% dự toán TW và đạt 61,04% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 91,73%.

Thu xổ số kiến thiết

ước đạt 243.082 triệu đồng, đạt 60,77% dự toán TW giao và đạt 60,77% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 140,20%.

Thu tiền sử dụng đất

đạt 1.473.104 triệu đồng, đạt 26,78% dự toán TW và đạt 24,19% dự toán HĐND, tăng 9,69%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 61.976 triệu đồng, đạt 41,88% dự toán TW và đạt 41,88% dự toán HĐND, giảm 4,51% so với cùng kỳ.

 

KTXH10

- Chi ngân sách nhà nước: Ước tính 5 tháng năm 2026, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 16.839.546 triệu đồng, đạt 42,11% dự toán TW giao và đạt 40,80% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 3,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó,

Chi thường xuyên đạt 11.237.908 triệu đồng, đạt 37,35% dự toán TW giao và đạt 37,35% dự toán HĐND giao, tăng 10,60%. Chi đầu tư phát triển ước đạt 5.601.638 triệu đồng, đạt 60,80% dự toán TW giao và đạt 53,51% dự toán HĐND giao, giảm 23,85% so với cùng kỳ năm trước.

Ngân hàng: Hoạt động tín dụng, ngân hàng trên địa bàn phát triển ổn định và an toàn. Ước tính đến ngày 31/5/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 171.200 tỷ đồng, tăng 2,3% so với đầu năm; dư nợ cho vay ước đạt 278.300 tỷ đồng, tăng 6,8% so với đầu năm; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 0,91% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Trung ương. Ước tính đến ngày 31/5/2026, dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 15.707 tỷ đồng, tăng 8,6%, với 324.643 khách hàng còn dư nợ.

Công tác bảo hiểm: Trong tháng, toàn tỉnh ước có 17 nghìn người tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Tính chung 5 tháng năm 2026, ước có 2.675 nghìn người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, đạt 98% kế hoạch, tăng 5% so cùng kỳ. Tổng số tiền thu được là 3.435 tỷ đồng (đạt 39% kế hoạch, tăng 3% so cùng kỳ); tổng số tiền chi là 4.544,077 tỷ đồng (đạt 44% kế hoạch, tăng 15% so cùng kỳ); tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN là 315 tỷ đồng.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

6.2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển. Tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng do nhiều chương trình kích cầu, khuyến mại; kỳ nghỉ lễ dài ngày làm cho lượng khách du lịch trong, ngoài tỉnh và khách nước ngoài đến với tỉnh tăng cao đã góp phần làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của tỉnh 5 tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2026 ước đạt 17.855,5 tỷ đồng, tăng 1,04% so với tháng trước và tăng 16,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.743,8 tỷ đồng, tăng 1,16% so với tháng trước và tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 169,44%; Ô tô các loại tăng 28,44%; nhiên liệu khác tăng 46,08%, xăng dầu các loại tăng 33,02%... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.072,2 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước, tăng 22,82% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 17,8 tỷ đồng, tăng 19,83% so với tháng trước và tăng 18,58% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.021,7 tỷ đồng, giảm 1,06% so với tháng trước và tăng 19,77% so với cùng kỳ năm trước.

KTXH11

Tính chung 5 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 86.513,7 tỷ đồng, tăng 15,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt gần 71.520 tỷ đồng, tăng 14,37%, chiếm 82,67% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5 tháng năm 2026. Một số mặt hàng bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 167,02%; ô tô các loại tăng 48,08%; xăng dầu các loại tăng 31,02%;... Một số mặt hàng có mức tăng thấp hơn mức tăng chung như: lương thực, thực phẩm chỉ tăng 6,11%; hàng may mặc tăng 2,53%; hàng hoá khác tăng 2,05%;…Các mặt hàng này đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ.

Hình 10. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng giai đoạn 2022-2026

KTXH12

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 9.762,0 tỷ đồng, tăng 19,34%, chiếm 11,28%. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 1.177,1 tỷ đồng, tăng tăng 29,95%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 8.584,9 tỷ đồng, tăng 18,01%.

Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 58,4 tỷ đồng, tăng 32,36%, chiếm 0,07%.

Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.173,3 tỷ đồng, tăng 16,20%, chiếm 5,98%. Phân theo nhóm, ngành hàng thì dịch vụ thì tăng trưởng cao nhất là ngành dịch vụ sửa chữa máy tính và đồ dùng cá nhân tăng 25,47%; dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 20,88%; dịch vụ khác tăng 20,21%...Một số ngành có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí chỉ tăng 10,18%, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,64% so với cùng kỳ năm trước…

Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Tăng cường tổ chức đa dạng các hoạt động nhằm thu hút khách du lịch; trọng tâm là triển khai chuỗi sự kiện kích cầu du lịch khởi động mùa du lịch năm 2026[7]. Đồng thời, tổ chức các hoạt động trải nghiệm phục vụ du khách với Chủ đề “Hội tụ” với 12 hoạt động chính[8], góp phần tạo điểm nhấn, quảng bá hình ảnh của tỉnh đến với du khách và kích cầu du lịch trong năm 2026.

Ước tháng 5/2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 567.840 lượt khách, giảm 3,06% so với tháng trước, tăng 25,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách ngủ qua đêm là 406.884 lượt khách, giảm 3,92% và tăng 27,47%; lượt khách trong ngày là 160.956 lượt, giảm 0,83% và tăng 20,13%. Tính chung 5 tháng năm 2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 2.831.919 lượt khách, tăng 21,10% so với so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách ngủ qua đêm là 2.039.120 lượt khách tăng 21,54%; lượt khách trong ngày là 792.799 lượt, tăng 20,01%.

Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour tháng 5/2026 là 5.289 lượt, tăng 37,73% so với tháng trước và tăng 118,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng năm 2026 là 14.724 lượt, tăng 119,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đi trong nước là 14.724 lượt, tăng 163,26%.

6.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Hoạt động xuất khẩu của tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng, đảm bảo theo kịch bản đã xây dựng tuy gặp nhiều bất lợi do giá các mặt hàng xăng, dầu tăng cao, các chi phí phục vụ hoạt động xuất khẩu biến động như cước vận tải biển và chi phí bảo hiểm hàng hải tăng.

Trong tháng 5/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 415 triệu USD, tăng 14,64% so với tráng trước, tăng 6,46% cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 1.727 triệu USD, tăng 4,34% so với cùng kỳ năm trước, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 807 triệu USD, tăng 0,29% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu tháng 5/2026 của tỉnh ước đạt 300 triệu USD, tăng 12,36% so với tháng trước, tăng 0,40% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng năm 2026, đạt 1.267 triệu USD, tăng 3,02% so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cà phê đạt 125.500 tấn, tăng 7,75%; hồ tiêu đạt 15.300 tấn, giảm 0,79%, điều 18.100 tấn, tăng 5,57%; cao su 3.900 tấn, tăng 2,98%; hàng rau quả 285 triệu USD, tăng 104,59%, hải sản 72,5 triệu USD, tăng 16,94%; linh kiện điện tử 14,3 triệu USD, tăng giảm 10,63%...Hoạt động xuất khẩu vẫn đang trên đà tăng trưởng; bên cạnh đó, một số mặt hàng giảm nhẹ do bắt đầu vào niên vụ mới nên nguồn cung dự trữ chuyển qua không còn nhiều.

KTXH13

Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu tháng 5/2026 ước đạt 115 triệu USD, tăng 21,05%, tăng 26,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng năm 2026 đạt 460 triệu USD, tăng 8,18% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.

6.4. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la Mỹ

Tình hình cung cầu thị trường trên địa bàn tỉnh nguồn cung hàng hóa ổn định; giá cả nhiều mặt hàng tăng đột biến trong những tháng gần đây cũng dần bình ổn. Giá xăng dầu, giá vàng có dấu hiệu giảm. Tuy nhiên, giá một số mặt hàng thiết yếu vẫn ở mức cao do chi phi vận chuyển, nhập khẩu tăng. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2026 tăng 0,42% so với tháng trước; tăng 6,75% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng 12 năm trước tăng 3,60%. Chỉ số giá bình quân 5 tháng năm 2026 tăng 5,10%.

Trong mức tăng 0,42% của chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2026 so với tháng trước, tất cả 11/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ đều có chỉ số giá tăng. 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,3% (làm cho CPI chung tăng 0,05 điểm phần trăm) là nhu cầu đồ mùa hè người dân tăng cao, giá nguyên vật liệu, giá nhập khẩu tăng làm cho vải các loại tăng 1,49%; quần áo may sẵn tăng 1,65%; may mặc khác tăng 1,38%...[9] Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,91% do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,28%, điện sinh hoạt tăng 3,17%, bên cạnh đó giá gas đã giảm 7,39% theo giá thế giới. Nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,7% do thời tiết nắng nóng nên các sản phẩm máy điều hoà nhiệt độ tăng 1,98%; tủ lạnh tăng 1,07%; máy giặt tăng 2,21%;...[10] Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,64% do du lịch trọn gói tăng 0,81%, giá thể thao và giải trí khác tăng 0,69%...[11] Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,6% chủ yếu tăng ở dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 1,53% và dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 2,11%, dịch vụ hiếu hỷ tăng 0,82%. Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,28% do dịch vụ truyền hình và Internet tăng 0,3%; thiết bị thông tin và truyền thông tăng 0,53%...[12] Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17%, trong đó cả 2/3 mặt hàng chính đều tăng: Thực phẩm tăng 0,01%[13], ăn uống ngoài gia đình tăng 1,25% do ảnh hưởng của giá xăng dầu tăng làm cho các dịch vụ ăn uống tăng. Nhóm giao thông tăng 0,13% chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 0,68% trong đó xăng tăng 2,06%; dầu mỡ nhờn tăng 1,23%...[14] Nhóm giáo dục tăng 0,12% do các sản phẩm từ giấy tăng 0,36%; sách giáo khoa tăng 0,09%; bút viết các loại tăng 0,15%; giá dịch vụ giáo dục tăng 0,12% do giá dịch vụ dạy thêm ở một số cơ sở tăng. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06% chủ yếu tăng ở một số loại thuốc nhập khẩu. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,01% là do thuốc hút tăng 0,99%, nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 1,44%... Việc 11/11 nhóm hàng hóa đều tăng cho thấy chi phí đầu vào tăng do xăng dầu tăng đã khiến cho giá các nhóm hàng hóa đồng loạt tăng, áp lực lạm phát là hiện hữu.

Hình 12. Tốc độ tăng/giảm chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2026 so với tháng trước (%)

KTXH14

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng năm 2026 tăng 4,69%. Có 10/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó: tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 12,61%; tiếp đến là nhóm giao thông tăng 6,39% do giá xăng dầu tăng mạnh; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,54% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, Tết; nhóm giáo dục tăng 3,91%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 4,25%; nhóm may mặc giày dép và mũ nón tăng 4,18%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,98% (trong đó: thực phẩm tăng 4,56%, ăn uống ngoài gia đình tăng 6,78%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,35%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,10% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, Tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng, các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,99%; nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,68%, trong đó dịch vụ y tế tăng 0,41% là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng.

KTXH15

Ở một diễn biến khác, toàn tỉnh có 01/11 nhóm hàng giảm giá, đó là nhóm thông tin truyền thông giảm 1,44% đã tác động tích cực đến chỉ số giá bình quân 5 tháng năm 2026.

Sau nhiều kỳ tăng cao liên tiếp, chỉ số giá vàng tháng 5 giảm 4,16% so với tháng trước, bình quân 5 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 69,11% là do giá vàng giảm theo giá thế giới.

Chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 0,06% so với tháng trước, bình quân 5 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 2,16%. Sức mua của những mặt hàng này ở mức bình thường.

6.5. Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng 5 và 5 tháng năm 2026 ổn định, an toàn và thông suốt. Giá xăng, dầu trong kỳ tiếp tục có nhiều biến động đã tác động không nhỏ đến giá vé khách và cước vận chuyển hàng hóa. Doanh thu vận tải và khối lượng luân chuyển, vận chuyển hành khách và hàng hóa tăng so với cùng kỳ do nhu cầu di chuyển, đi lại, sản xuất của người dân tăng, đặc biệt là trong các kỳ nghỉ lễ.

Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát tháng 5/2026 ước đạt 1.046,6 tỷ đồng, tăng 2,57% so với tháng trước, tăng 15,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách đạt 296,6 tỷ đồng, tăng 2,24% và tăng 11,34%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 624,0 tỷ đồng, tăng 3,09% và tăng 15,60%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 64,3 tỷ đồng tăng 0,53% và tăng 16,51%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 61,7 tỷ đồng, tăng 1,14% so tháng trước và tăng 39,93% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 5 tháng năm 2026 doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 4.793,2 tỷ đồng, tăng 14,67% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 1.347,5 tỷ đồng, tăng 14,86%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 2.893,1 tỷ đồng, tăng 13,70%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 291,5 tỷ đồng, tăng 16,31%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt gần 261,1 tỷ đồng, tăng 23.47% so với cùng kỳ năm trước.

Vận chuyển và luân chuyển hành khách trong tháng 5/2026 ước đạt 2.753 nghìn lượt khách và 392 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 0,99% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 1,02%; so với cùng kỳ năm trước tăng 10,43% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 16,42%.

 Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.559 nghìn tấn và 503 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 2,36% về khối lượng vận chuyển và tăng 3,93% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 14,13% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,78% về khối lượng luân chuyển.

Tính chung 5 tháng năm 2026, vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 12.318 nghìn lượt hành khách và 1.717 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,12% về khối lượng vận chuyển và tăng 16,78% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 7.588 nghìn tấn và 2.391 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 12,69% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,75% về khối lượng luân chuyển.

7. Khoa học công nghệ và chuyển đổi số

Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được triển khai đúng kế hoạch, bảo đảm quy trình, thủ tục theo quy định. Tỉnh tiếp tục phối hợp thực hiện 01 nhiệm vụ cấp quốc gia[15]; theo dõi 06 nội dung đề xuất đặt hàng nhiệm vụ thực hiện năm 2026, đồng thời hướng dẫn, quản lý 20 đề tài cấp tỉnh được chuyển tiếp sang năm 2026. Bên cạnh đó, đã tổ chức họp Hội đồng KH&CN để đánh giá, nghiệm thu 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh[16] (kết quả đạt); đồng thời tiến hành kiểm tra, đánh giá tiến độ 05 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh chuyển tiếp năm 2026[17], cơ bản đảm bảo tiến độ đề ra[18]. Song song đó, tỉnh tập trung chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai các nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 07-NQ/TU của Tỉnh ủy và các Kế hoạch số 01-KH/BCĐ, số 02-KH/BCĐ của Ban Chỉ đạo tỉnh.

Công tác chuyển đổi số được quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ, hiệu quả; khẩn trương hoàn thiện và ban hành Quy chế quản lý, vận hành và khai thác Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu tỉnh nhằm bảo đảm quản lý thống nhất, chia sẻ dữ liệu thông suốt, an toàn, hiệu quả, phục vụ chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; tổ chức cuộc thi trắc nghiệm trực tuyến tìm hiểu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk năm 2026 (đợt 3); thực hiện cấp phép và gia hạn sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với thiết bị đặt trên phương tiện nghề cá theo đúng quy định;….

8. Một số vấn đề xã hội

8.1. An sinh xã hội

Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được quan tâm thực hiện.

Trong tháng, đã tiếp nhận 273 hồ sơ đối tượng chính sách các loại; qua kiểm tra, thẩm định đã giải quyết chế độ đối với 263 hồ sơ người có công, thân nhân người có công và các đối tượng liên quan đủ điều kiện theo quy định. Đồng thời, quyết định điều dưỡng cho 60 người có công tại 07 xã, phường với tổng kinh phí hơn 150,6 triệu đồng; phê duyệt hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình và thiết bị phục hồi chức năng cho 93 người có công với tổng kinh phí gần 129,9 triệu đồng. Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em tiếp tục được triển khai; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền trẻ em tại cơ sở. Công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và phòng, chống tệ nạn xã hội được thực hiện thường xuyên; tiếp tục duy trì công tác quản lý, hỗ trợ đối tượng cai nghiện, người sau cai nghiện và tăng cường tuyên truyền phòng, chống tệ nạn xã hội tại cộng đồng.

8.2. Lao động việc làm

Công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm được triển khai đầy đủ, kịp thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Trong tháng, có 435 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó lao động thời vụ là 381 người. Đồng thời, tỉnh đã hoàn thiện và trình dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định các đối tượng được vay vốn từ nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội với mức lãi suất thấp hơn nhằm hỗ trợ giải quyết việc làm tại địa phương.

Công tác tư vấn và giới thiệu việc làm được thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua các hoạt động tư vấn cho lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp, phiên giao dịch việc làm tại các xã, phường và các hội nghị tuyên truyền, tư vấn, giới thiệu việc làm trong nước và đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Trong tháng, đã tư vấn việc làm, nghề nghiệp và các chế độ chính sách cho 6.790 lượt người; giới thiệu việc làm cho 1.345 lượt người, trong đó có 1.370 người có việc làm sau khi giới thiệu.

Công tác hỗ trợ người lao động và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp được triển khai kịp thời, hiệu quả. Trong tháng, đã ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.580 người, với tổng kinh phí chi trả hơn 32 tỷ đồng; trong đó có 150 người đã tham gia đào tạo và được hỗ trợ kinh phí.

Công tác an toàn, vệ sinh lao động được quan tâm, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc. Tỉnh đã tổ chức Lễ phát động hưởng ứng Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động và Tháng Công nhân năm 2026 tại Khu công nghiệp Hòa Hiệp, phường Hòa Hiệp; đồng thời ban hành Kế hoạch kiểm tra triển khai “Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2026”.

8.3. Hoạt động văn hóa, thể thao

Văn hóa: Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi động theo kế hoạch. Tỉnh đã tổ chức và triển khai các hoạt động nhân dịp 140 năm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, Chiến thắng Điện Biên Phủ; kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026)… Đồng thời, tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trưng bày, quảng bá di sản văn hóa và sản phẩm OCOP địa phương; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục di sản văn hóa thông qua các nền tảng số, ứng dụng AI và Spotify.

Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được tỉnh Đắk Lắk quan tâm và chú trọng thực hiện. Trong đó, tỉnh tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả Chương trình hành động số 14-CTr/TU ngày 22/4/2026 của Tỉnh ủy nhằm thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của địa phương, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tỉnh cũng tiếp tục triển khai các nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch; xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể “Lễ cúng bến nước của dân tộc Êđê” trình đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2026.

Thể thao: Các hoạt động thể dục, thể thao được triển khai đồng bộ nhằm hưởng ứng chương trình toàn dân tập luyện Thể dục thể thao năm 2026; tiếp tục triển khai Chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, năm 2025 - 2026 và đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thể thao. Tỉnh đăng cai tổ chức vòng loại Giải bóng đá Thiếu niên (U13), Nhi đồng (U11) toàn quốc năm 2026 và Giải Aerobic vô địch các câu lạc bộ quốc gia năm 2026.

Trong tháng, tổ chức thành công Giải Bóng chuyền, Giải cờ vua - cờ tướng, Giải Bóng đá Futsal nam, Giải vô địch Billiards trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Đắk Lắk lần thứ I năm 2025 - 2026. Đồng thời, phối hợp tổ chức Họp báo Giải chạy bộ Buôn Ma Thuột Robusta Half Marathon - 2026 và hoạt động bay Khinh khí cầu phục vụ kích cầu du lịch dịp Lễ 30/4 - 01/5.

Thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì với 496 vận động viên thuộc 18 môn thể thao được tập trung đào tạo, huấn luyện và thi đấu; trong đó có 113 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia. Tỉnh tiếp tục cử các đoàn vận động viên tham gia thi đấu tại các giải thể thao quốc tế, quốc gia và khu vực; đạt nhiều thành tích tích cực ở các môn cung thủ, Kick Boxing, đẩy gậy, kéo co, bắn súng và cờ vua (9 huy chương vàng, 15 huy chương bạc, 28 huy chương đồng).

8.4. Giáo dục - Đào tạo

Các cơ sở giáo dục tổ chức dạy và học bảo đảm đúng chương trình, kế hoạch năm học 2025-2026; đồng thời chủ động chuẩn bị các điều kiện tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 và tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2026-2027. Tổ chức thành công Hội thi Aerobic cấp học mầm non tỉnh Đắk Lắk năm học 2025-2026 tại khu vực phía Đông Đắk Lắk. Tham gia cùng đoàn công tác của Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá hoạt động thí điểm “Nâng cao năng lực dạy Tiết đọc thư viện theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực” giai đoạn 2; tham dự Vòng Chung kết Cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp” lần thứ VIII; Ngày hội trải nghiệm “U-Fest” và Chung kết cấp tỉnh Cuộc thi tiếng Anh “Đường đến Đại Hải Trình” năm học 2025-2026; Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh trung học phổ thông toàn quốc lần thứ IV năm 2026.

Ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh. Ngành giáo dục tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và giáo viên; triển khai kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia năm học 2025-2026. Đồng thời, thực hiện kiểm tra điều kiện thành lập các trung tâm ngoại ngữ, tin học, cơ sở kỹ năng sống và giám sát tổ chức thi cấp chứng chỉ tiếng Anh quốc tế theo quy định.

8.5. Công tác Y tế

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tỉnh quan tâm thực hiện, các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; trong tháng, tổng số lượt khám chữa bệnh toàn tỉnh là 347.735 lượt, nội trú 46.177 lượt, ngoại trú 17.194 lượt, chuyển viện (nội trú) 2.088 trường hợp.

Ngành y tế tăng cường giám sát, theo dõi, báo cáo và xử lý kịp thời các dịch bệnh phát sinh, không để bùng phát trên diện rộng, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong tháng 5/2026, toàn tỉnh có 332 ca mắc bệnh tay chân miệng; 113 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 99 ca mắc bệnh thủy đậu; 02 ca mắc viêm não mô cầu; 158 ca mắc quai bị; 01 ca mắc bệnh dại; không phát sinh ca mắc mới bệnh sởi và viêm não Nhật Bản. Trong tháng có 01 trường hợp tử vong do viêm não mô cầu và 01 trường hợp tử vong do bệnh dại. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.023 ca mắc bệnh tay chân miệng; 703 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 175 ca mắc bệnh thủy đậu; 02 ca mắc viêm não mô cầu; 158 ca mắc quai bị; 02 ca mắc bệnh dại; 03 ca mắc bệnh sởi và không có ca mắc viêm não Nhật Bản. Toàn tỉnh có 01 trường hợp tử vong do viêm não mô cầu và 02 trường hợp tử vong do bệnh dại.

Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 19,7%.

Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) tiếp tục được triển khai theo kế hoạch; thực hiện giám sát ATTP tại các sự kiện theo phân công và tổ chức Hội nghị trực tuyến hưởng ứng “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2026. Đồng thời, tăng cường kiểm tra đột xuất tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống và bếp ăn tập thể thuộc ngành Y tế quản lý[19]. Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm với 92 người mắc, không có tử vong.

8.6. Tình hình vi phạm môi trường

Trong tháng 5/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 5 vụ vi phạm môi trường, xử lý 11 vụ, số tiền xử phạt là 175,3 triệu đồng; so với tháng trước, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 44,44%, số vụ đã xử lý gấp 3,67 lần, số tiền xử phạt gấp 3,77 lần. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 37,50%, cùng kỳ năm trước không phát sinh vụ xử lý.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 63 vụ vi phạm môi trường, xử lý 60 vụ, tổng số tiền xử phạt là 1.230,0 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 53,66%, số vụ đã xử lý gấp 2,14 lần, số tiền xử phạt tăng 73,67%.

8.7. Tình hình thiên tai

Trong tháng 5/2026, thời tiết trên địa bàn tỉnh chuyển sang giai đoạn giao mùa với nắng nóng cục bộ xen kẽ các đợt mưa dông vào chiều tối. Đặc biệt, chiều tối ngày 15/5/2026, mưa lớn kèm dông lốc xảy ra tại xã Ea Kar gây thiệt hại đáng kể về tài sản: 26 căn nhà bị tốc mái, hư hỏng; hơn 29 ha lúa và hoa màu bị thiệt hại; nhiều cây xanh gãy đổ ảnh hưởng hệ thống điện và giao thông. Tổng thiệt hại ước khoảng 4.039 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ thiên tai.

Ngay sau thiên tai, lực lượng chức năng đã phối hợp với người dân khắc phục hậu quả, dọn dẹp cây xanh gãy đổ, bảo đảm an toàn giao thông, hỗ trợ các hộ dân sửa chữa nhà cửa và ổn định đời sống. Đồng thời, các đơn vị duy trì trực ban, theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, tăng cường cảnh báo nhằm nâng cao khả năng chủ động ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan.

8.8. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội

   Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh cơ bản được giữ vững, ổn định. Các lực lượng chức năng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nắm chắc tình hình; quản lý chặt chẽ các đối tượng chính trị trọng điểm, tình hình dân tộc, tôn giáo và các vụ việc có dấu hiệu phức tạp phát sinh trên địa bàn; kịp thời phát hiện, xử lý, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ, hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Đồng thời, tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, góp phần bảo đảm an ninh, an toàn cho Nhân dân và các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Tình hình cháy, nổ: Tình hình cháy, nổ trên địa bàn tỉnh vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là tại khu dân cư, cơ sở sản xuất và kinh doanh. Từ ngày 15/4/2026 đến ngày 15/5/2026, toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, nổ, không có người chết và bị thương, thiệt hại tài sản ước tính khoảng 90 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ không thay đổi, giá trị tài sản thiệt hại giảm 47,37%. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến ngày 15/5/2026, toàn tỉnh xảy ra 17 vụ cháy, nổ, làm 04 người chết và 01 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 2.337 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ gấp 2,13 lần và giá trị tài sản thiệt hại gấp 2,60 lần.

Tình hình tai nạn giao thông: Tình hình tai nạn giao thông so với cùng kỳ năm trước giảm ở cả ba tiêu chí. Từ ngày 15/4/2026 đến ngày 15/5/2026, toàn tỉnh xảy ra 37 vụ tai nạn giao thông, làm chết 24 người và bị thương 21 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 2,63%, số người chết giảm 22,58% và số người bị thương giảm 4,55%. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến ngày 15/5/2026, toàn tỉnh xảy ra 183 vụ tai nạn giao thông, làm chết 144 người và bị thương 93 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 21,12%, số người chết giảm 17,71% và số người bị thương giảm 36,30%.

Trên đây là báo cáo tình hình Kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng năm 2026 của Thống kê tỉnh Đắk Lắk./.

[1] Cây lúa: Rầy nâu tỷ lệ hại (TLH) 5-15%, mật độ 300-700 con/m2, diện tích nhiễm (DTN) 08 ha; bệnh khô vằn TLH 5-20%, DTN 05 ha; sâu cuốn lá lớn TLH 5-14%, DTN 03 ha; sâu đục thân (bông bạc) TLH 5-12%, DTN 2,7 ha; bệnh đốm sọc vi khuẩn TLH 6-25%, DTN 2,6 ha; bệnh bạc lá TLH 5-10%, DTN 02 ha.

[2] Cây cà phê: Rệp sáp TLH 5-20%, DTN 30 ha; bệnh khô cành TLH 6-14%, DTN 6,6 ha (Ea Kar, Lắk); bệnh gỉ sắt TLH 3-10%, DTN 4,3 ha; bệnh nấm hồng TLH 3-15%, DTN 3,9 ha; bệnh đốm mắt cua TLH 3-5%, DTN 2,5 ha.

Cây hồ tiêu: Bệnh chết nhanh TLH 4-15%, DTN 133,5 ha; bệnh chết chậm TLH 3-10%, DTN 50,2; rệp sáp TLH 5-16%, DTN 17 ha; bệnh đốm tảo TLH 6-18%, DTN 6,5 ha.

Cây cao su: Bệnh đốm mắt chim TLH 3-8%, DTN 07 ha; bệnh nấm hồng TLH 3-5%, DTN 1,5 ha.

[3] Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong kỳ báo cáo phát sinh và tiêu hủy 5.207 con lợn, tổng khối lượng tiêu huỷ là 251.240 kg, tại 10 hộ, 6 thôn/buôn, 02 xã mới (Cư Mta và Xuân Phước). Hiện nay, có 4 phường/xã chưa qua 21 ngày; Số mắc bệnh là 5.160; tổng chết và tiêu hủy là 5.160 con. Luỹ kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh dịch bệnh phát sinh và tiêu huỷ tại 109 hộ, 52 thôn/buôn, 28 xã/phường. Dịch bệnh đã làm chết và tiêu huỷ 7.288 con lợn, tổng khối lượng tiêu huỷ là 365.036 kg. Các địa phương xảy ra dịch bệnh DTLCP trên đia bàn tinh gồm: Krông Pắc, Dray Bhăng, Ea Ktur, Ea M'Droh, Quảng Phú, Ea Tul, Tam Giang, Phú Xuân, Dang Kang, Phú Hoà 1, Phú Hoà 2, Tuy Hoà, Tây Hoà, Đức Bình, Ea Bá , Cư M'gar, Ea Phê, Đắk Liêng, Dliê Ya, Bình Kiến, Krông Búk, Tuy An Tây, Sông Hinh, Hòa Hiệp, Xuân Lãnh, Ea Kly, Cư Mta và Xuân Phước.

Bệnh Dại: Trong kỳ báo cáo dịch bệnh không phát sinh. Lũy kế từ đầu năm đến nay phát hiện và ghi nhận 07 con chó, 01 con mèo mắc bệnh Dại tại 8 hộ, 8 thôn/buôn, 7 xã/phường gồm: Ea Kao, Buôn Đôn, Ea Drông, Pơng Drang, Ea Na, Krông Ana và Bình Kiến. Số lượng chó, mèo tiêu huỷ do nghi mắc bệnh Dại là 21 con (tiêu hủy do mắc bệnh dại: 08 con, tiêu hủy do nghi mắc bệnh dại: 13 con).

[4] Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp II chủ yếu có chỉ số tăng khá: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 36,0%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 29,29%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 20,06%

[5] Nhà máy điện gió Cư Né 2 đã đưa vào vận hành thương mại 13/19 tua-bin với công suất 50MW, tạo thêm động lực cho ngành sản xuất và phân phối điện.

[6] Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng Tuy An được giao làm chủ đầu tư và thực hiện nhiệm vụ xây dựng 06 khu tái định cư, 02 khu cải táng. Hiện đơn vị đang phấn đấu hoàn thành các thủ tục liên quan để khởi công xây dựng các khu tái định cư, khu cải táng từ tháng 10/2026 và dự kiến hoàn thành trong tháng 12/2026.

Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng Tuy Hòa được giao làm chủ đầu tư và thực hiện nhiệm vụ xây dựng 06 khu tái định cư. Trong đó, khu tái định cư phường Bình Kiến đã hoàn thành 100% công tác giải phóng mặt bằng và đã phê duyệt hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công - dự toán; dự kiến hoàn thành các thủ tục liên quan và khởi công xây dựng trong tháng 7/2026. Các khu còn lại đang tích cực triển khai các thủ tục quy hoạch và lập hồ sơ dự án đầu tư; phấn đấu hoàn thành các thủ tục liên quan để khởi công xây dựng từ tháng 8/2026 và dự kiến hoàn thành trong tháng 12/2026.

[7] Như: trình diễn khinh khí cầu bên tháp Nghinh Phong (phường Tuy Hòa); Chương trình trình nghệ thuật đặc sắc với chủ đề “Cá ngừ Đắk Lắk tinh hoa câu vàng”; Giải chạy “Chinh phục Núi Đá Bia - Sky Run”, khám phá tuyệt tác thiên nhiên phía Đông tỉnh Đắk Lắk.

[8] Hoạt động 1: Trưng bày, giới thiệu các sản phẩm đặc trưng của địa phương, kết hợp quảng bá sản phẩm văn hóa - du lịch địa phương: Chương trình workshop trải nghiệm làm đồ thủ công thổ cẩm; Chương trình workshop trải nghiệm, mỹ thuật ứng dụng; Hoạt động 2: Quảng bá, trải nghiệm di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: Tri thức dân gian “Tri thức trồng và chế biến cà phê Đắk Lắk”, tỉnh Đắk Lắk; Hoạt động 3: Triển lãm ảnh - thực hiện triển lãm ảnh nghệ thuật gồm 180 ảnh, chủ đề: “Bản sắc các dân tộc Việt Nam”; Hoạt động 4: Quảng bá, giới thiệu ấn phẩm du lịch tỉnh Đắk Lắk; Hoạt động 5: Hoạt động “Một ngày trải nghiệm cùng trang phục Ê đê”; Hoạt động 6: Trải nghiệm chế tác và tìm hiểu về nhạc cụ đàn Tính cùng Nghệ nhân. Hoạt động 7: Trình diễn hát Then - đàn Tính, múa chén, nhảy sạp, ẩm thực dân gian của người Tày; Hoạt động 8: Hoạt động sáng tạo nghệ thuật (“Nặn tò he” và viết Thư pháp); Hoạt động 9: Biểu diễn nghệ thuật “Âm nhạc cồng chiêng - Âm vang đại ngàn”; Hoạt động 10: Trải nghiệm các sản phẩm từ cây Kơ Nia; Hoạt động 11: Trải nghiệm các trò chơi và bánh dân gian và trải nghiệm món ăn dân gian tại Nhà dài Êđê; Hoạt động 12: Múa Lân - Sư - Rồng.

[9] Mũ nón tăng 0,99%; giá giày dép tăng 0,44%; dịch vụ may mặc tăng 0,36% và dịch vụ giày dép tăng 5,66%.

[10] Thiết bị khác tăng 0,94%; đồ điện tăng 1,05%; đồ dùng nấu ăn tăng 0,61; đồ dùng bằng kim loại tăng 1,84%; đồ nhựa và cao su tăng 1,09%; hàng thuỷ tinh, sành sứ tăng 1,30%; hàng dệt trong nhà tăng 1,99%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,28%;

[11] Nhóm văn hoá tăng 0,12%, sách, báo, tạp chí các loại tăng 0,19%.

[12] Máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng tăng 0,35%; sửa chữa điện thoại tăng 0,65%; máy vi tính và phụ kiện tăng 1,50%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 1,67%; ti vi màu tăng 0,45%; thiết bị âm thanh tăng 1,07%

[13] Giá thịt gia cầm tăng 0,36%; giá thịt gà tăng 0,64%; Giá thịt chế biến tăng 0,07%; thịt quay, giò, chả tăng 0,05%, thịt hộp tăng 0,60%, Giá thuỷ sản chế biến tăng 0,06%; cá khô và chế biến (sơ chế) tăng 0,22%; Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 5,59%; Giá các loại đậu và hạt tăng 0,2% do không phải mùa vụ. Giá sữa, bơ, phô mai tăng 0,18%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,67% do giá nhập khẩu tăng.

[14] Giá phụ tùng tăng 0,45% do chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất, chi phí nhập khẩu tăng. Giá dịch vụ khác đối với phương tiện giao thông tăng 0,01%, tăng ở dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,16%.

[15] “Đăng ký bảo hộ và quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Cá chình bông của tỉnh Phú Yên”.

[16] “Nghiên cứu ứng dụng viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS) trong quản lý, giám sát khu vực biên giới của tỉnh Đắk Lắk phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh”.

[17] Gồm các nhiệm vụ, đề tài: (1) “Xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp ứng phó xâm nhập mặn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển tỉnh Phú Yên”; (2) “Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Sầu riêng Sông Hinh” dùng cho sản phẩm Sầu riêng của huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên”; (3) “Nghiên cứu xác định hành lang thoát lũ hợp lý cho khu vực hạ du sông Ea H’leo khi có các công trình thủy lợi, thủy điện lớn ở thượng nguồn đi vào hoạt động và phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tới năm 2050”; (4) “Nghiên cứu bảo tồn di sản kiến trúc truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chỗ gắn với phát triển du lịch ở tỉnh Đắk Lắk”. (5) “Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm nano-sinh học trong phòng trừ bệnh hại do nấm Phytophthora trên cây (sầu riêng, bơ).

[18] Riêng nhiệm vụ “Nghiên cứu bảo tồn di sản kiến trúc truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chỗ gắn với phát triển du lịch ở tỉnh Đắk Lắk” hoãn kiểm tra, đang hoàn thành hồ sơ đề nghị nghiệm thu.

[19] Trong tháng, đã thẩm định điều kiện ATTP tại 125 cơ sở thực phẩm; kết quả có 68 cơ sở đạt điều kiện ATTP, 54 cơ sở đang hoàn thiện theo quy định và 03 cơ sở không đạt điều kiện ATTP

 

Lấy link copy
In Gửi Email

Bài viết liên quan

CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC