Sầu riêng xen cà phê: Bón phân đúng cho cả hai cây, lãi tăng gần 25%
Mô hình trồng sầu riêng xen cà phê đang phát triển mạnh tại Tây Nguyên, giúp người dân nâng cao thu nhập và giảm thiểu rủi ro thị trường. Tuy nhiên, việc chăm sóc đồng thời hai loại cây trồng có đặc tính sinh học khác nhau trên cùng một diện tích đặt ra bài toán phức tạp về chế độ dinh dưỡng. Việc chuyển đổi từ thói quen bón phân cảm tính sang quy trình kỹ thuật khoa học, thích ứng với biến đổi khí hậu đã mang lại hiệu quả vượt trội: giảm gần 600 kg dinh dưỡng nguyên chất/ha, nâng cao năng suất và tăng lãi ròng tới gần 25%.
Tây Nguyên thường xuyên đối mặt với tình hình thời tiết khắc nghiệt: nắng nóng kéo dài trong mùa khô, tiếp đó là mưa lớn dồn dập vào đầu mùa mưa. Điều này khiến cây cà phê, vốn có bộ rễ ăn nông, dễ bị sốc nhiệt, dẫn đến tình trạng hỏng rễ, vàng lá và rụng trái non. Mưa lớn cũng gây rửa trôi lớp đất mặt, làm đất nhanh chóng suy thoái và tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển.
Cây sầu riêng: Cần dinh dưỡng cho các giai đoạn phục hồi sau thu hoạch, phân hóa mầm hoa, nuôi hoa và nuôi quả. Khi phân hóa mầm hoa hoặc bắt đầu ra mắt cua, sầu riêng cần lượng nước vừa phải hoặc hạn chế tưới để tránh ra đọt non gây rụng hoa, trái non.
Cây cà phê: Nhu cầu dinh dưỡng và nước tưới bám sát theo nhịp mùa khô (giai đoạn tưới bung hoa) cùng các đợt đầu, giữa và cuối mùa mưa.
Khảo sát trên 450 nông hộ và phân tích 156 mẫu đất tại các điểm mô hình cho thấy: phần lớn người dân vẫn bón phân theo thói quen cảm tính, không căn cứ vào độ phì của đất hay năng suất mục tiêu. Lượng phân đạm bón cho cà phê trung bình đạt trên 400 kg N/ha/vụ, cao gần gấp đôi so với nhu cầu thực tế. Hệ quả là đất ngày càng bị chua hóa, cây trồng không hấp thụ hết lượng phân bón, gây lãng phí chi phí sản xuất và gia tăng phát thải nhà kính.
Nhằm giải quyết bài toán dinh dưỡng cho vườn cây xen canh, trong 2 niên vụ (2024–2025 và 2025–2026), Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền đã phối hợp với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai chương trình "Canh tác cà phê thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu" tại 4 vườn sầu riêng xen cà phê ở các khu vực Đắk Mil, Krông Pắk, Chư Păh và Đăk Hà.
Chương trình đã áp dụng đồng bộ 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cốt lõi:
1. Chỉnh trang kiến thiết vườn cây: Tiến hành tỉa cành, tạo tán, điều chỉnh khoảng cách hợp lý để đảm bảo độ thông thoáng và tối ưu hóa khả năng quang hợp cho cả hai tầng cây.
2. Cải tạo và phục hồi nền đất: Sử dụng phân bón cân bằng độ pH thay cho vôi truyền thống; bổ sung phân bón hữu cơ tích hợp vi sinh vật chức năng nhằm phục hồi bộ rễ; tận dụng vỏ cà phê và tàn dư thực vật làm phân bón tại chỗ.
3. Bón phân đúng đối tượng và đúng giai đoạn: Cây cà phê: Sử dụng bộ phân bón chuyên dùng cho mùa khô, giai đoạn tăng trưởng và giai đoạn chắc hạt; Cây sầu riêng: Sử dụng dòng phân bón riêng biệt cho các thời kỳ phục hồi, phân hóa mầm hoa, nuôi hoa, nuôi quả non và phát triển quả lớn; Định lượng phân bón dựa trên kết quả phân tích thổ dưỡng và năng suất dự kiến. Những đợt trùng thời điểm sinh trưởng được kết hợp bón chung để tiết kiệm công lao động.
4. Quản lý canh tác tổng hợp (IPM): Tưới nước dựa trên độ ẩm thực tế của đất, cắt cỏ chừa gốc làm thảm che phủ bảo vệ đất, ưu tiên áp dụng các biện pháp sinh học trong phòng trừ dịch hại.
Sau 2 năm theo dõi và tổng kết tại các điểm mô hình, giải pháp bón phân khoa học đã mang lại những chuyển biến rõ rệt:
Về năng suất: Năng suất cà phê nhân đạt từ 3,8 – 3,9 tấn/ha (tăng bình quân 12,7% ở vụ đầu và 14,1% ở vụ thứ hai so với đối chứng bón theo tập quán). Năng suất sầu riêng đạt 11,3 – 12,9 tấn quả/ha (tăng tương ứng 11,3% và 14,4%). Các phần diện tích có bổ sung chế phẩm vi sinh ghi nhận năng suất tăng thêm khoảng 4%.
Về lượng phân bón tiết kiệm: Mặc dù năng suất tăng nhưng lượng phân bón khoáng lại giảm đáng kể. Bình quân mỗi hecta tiết kiệm được khoảng 600 kg dinh dưỡng nguyên chất/vụ (gồm: 180 kg N, 83 kg P2O5, 130 kg K2O đối với cà phê và 56 kg N, 49 kg P2O5, 101 kg K2O đối với sầu riêng).
Về hiệu quả kinh tế & môi trường: Lãi ròng toàn vườn tăng trưởng 19,9% ở vụ thứ nhất và 24,9% ở vụ thứ hai. Trong niên vụ 2024-2025, lợi thu về đạt khoảng 1 tỷ đồng/ha/năm (so với 839 triệu đồng/ha/năm của phương pháp cũ). Việc giảm lượng phân bón hóa học, đặc biệt là phân đạm, cũng góp phần giảm phát thải khí nhà kính trên mỗi đơn vị nông sản.
Khảo sát thực tế cho thấy, điểm then chốt của mô hình là giúp người dân chuyển dịch tư duy từ bón phân theo kinh nghiệm sang canh tác dựa trên nhu cầu sinh lý của cây và sức khỏe của đất.
Từ những kết quả thu được, ngành nông nghiệp khuyến nghị tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật cho từng công thức cây trồng xen; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp vật tư nông nghiệp, các viện nghiên cứu, hệ thống khuyến nông và người dân nhằm nhân rộng mô hình ra các vùng sinh thái tương tự trên địa bàn, hướng tới phát triển nông nghiệp sinh thái và bền vững.
Ban Biên tập