Thứ hai, ngày 27 tháng 07 năm 2026
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Trong tháng:

Trong quý:

Cả năm:

Cập nhật lúc: 23/07/2026

Thông cáo báo chí tình hình Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm 2026

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, sự điều hành quyết liệt của UBND tỉnh và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá. Sản xuất nông nghiệp phát triển, các sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng tiếp tục phát huy lợi thế. Sản xuất công nghiệp phục hồi tích cực. Thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng. Công tác thu, chi ngân sách được điều hành chủ động, chặt chẽ. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước; tình hình thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc, có nhiều nhà đầu tư đến tìm hiểu đầu tư trên địa bàn tỉnh. Đầu tư công và phát triển kết cấu hạ tầng được tập trung chỉ đạo quyết liệt, nhất là công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án trọng điểm. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, triển khai hiệu quả. Công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền và sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện đồng bộ. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau:

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP)

Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2020) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 79.499,8 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 20.024,2 tỷ đồng, tăng 5,98%, vượt KB 0,36 điểm phần trăm (KB tăng 5,62%), đóng góp 1,53 điểm tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 18.472,6 tỷ đồng, tăng 11,12%, thấp hơn KB 3,21 điểm phần trăm (KB tăng 14,33%), đóng góp 2,51 điểm; Khu vực Dịch vụ đạt 37.196,7 tỷ đồng, tăng 7,34%, thấp hơn KB 1,75 điểm phần trăm (KB tăng 9,09%), đóng góp lớn nhất với 3,45 điểm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 3.806,3 tỷ đồng, tăng 7,3%, vượt KB 1,8 điểm phần trăm (KB tăng 5,5%), đóng góp 0,35 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Khu vực Dịch vụ giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp lớn nhất vào mức tăng GRDP của tỉnh. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch tăng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong khu vực Dịch vụ như sau: Bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,72% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp là 1,16 điểm phần trăm; Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 7,55%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; Giáo dục và đào tạo tăng 6,16%, đóng góp 0,38 điểm; Hoạt động của đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội tăng 6,34%, đóng góp 0,25 điểm; Hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,58%, đóng góp là 0,29 điểm. Mặc dù không có ngành nào tăng trưởng âm, tuy nhiên một số ngành còn lại tăng thấp hoặc đóng góp ít như: Hoạt động kinh doanh bất động sản chỉ tăng 3,23%, đóng góp 0,11 điểm; ngành nghệ thuật vui chơi, giải trí tuy tăng 7,21% nhưng chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế...

Trong khu vực Công nghiệp và Xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cao, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,51%, đóng góp 2,09 điểm phần trăm. Một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong ngành công nghiệp chính là: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,44%, đóng góp 0,98 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,06%, đóng góp 1,03 điểm là do trong quý II, tỉnh có 02 dự án điện gió Cư Né 1, Cư Né 2 đi vào hoạt động và phát điện thương mại, ngành khai khoáng tăng 9,59%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,47%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành Xây dựng tăng 7,19%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm.

Trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh và phục vụ xuất khẩu. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 6,12% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,33 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,02% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 5,26%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm.

So với cùng kỳ năm trước, Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng cao, tăng 7,3%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm, chủ yếu là do thuế giá trị gia tăng và các loại thuế sản phẩm khác còn lại tăng 7,39%, đóng góp 0,35 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Nhìn chung, GRDP 6 tháng đầu năm duy trì mức tăng khá, song vẫn chưa đạt kịch bản tăng trưởng của tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu là khu vực Công nghiệp - Xây dựng và khu vực Dịch vụ đều tăng thấp hơn mức tăng theo kịch bản đề ra.

Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 100.145,3 tỷ đồng, đạt 39,44% KH năm. Trong đó: Khu vực Nông lâm, nghiệp và thủy sản ước đạt 25.607,2 tỷ đồng, đạt 27,03% kế hoạch, chiếm 25,57% trong giá trị tổng sản phẩm, giảm 0,53 điểm phần trăm so với tỷ trọng nền kinh tế cùng kỳ năm trước; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 22.209,4 tỷ đồng, đạt 46,05% so kế hoạch, chiếm 22,18%, tăng 0,47 điểm phần trăm; Khu vực Dịch vụ đạt 47.533,7 tỷ đồng, đạt 46,75% kế hoạch, chiếm 47,46%, tăng 0,08 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt gần 4.795 tỷ đồng, đạt 51,59% kế hoạch năm, chiếm 4,79%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm trước.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục phát triển, sản lượng lúa Đông Xuân tăng so với cùng kỳ năm trước, sản lượng cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Số lượng đầu con chăn nuôi tuy giảm nhưng sản lượng thịt hơi tăng đáp ứng nhu cầu thực phẩm của người dân. Diện tích rừng trồng mới tăng cao, hoạt động khai thác gỗ được đẩy mạnh do nhu cầu xuất khẩu gỗ tăng cao. Hoạt động sản xuất thủy sản đạt kết quả tích cực, đặc biệt nuôi tôm hùm và khai thác hải sản, nhất là cá ngừ đại dương.

a) Nông nghiệp

Diện tích gieo trồng lúa Đông Xuân trên địa bàn tỉnh đạt 76.956 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, lúa vụ Đông xuân đã thu hoạch xong với năng suất ước đạt 76 tạ/ha, giảm 0,93 tạ/ha; Sản lượng ước đạt 584.866 tấn, tăng 0,08% so với vụ Đông xuân năm trước.

Tính đến ngày 20/6, toàn tỉnh gieo trồng được 23.700 ha lúa hè thu, tăng 0,77% so với cùng kỳ năm trước; hơn 52.248 ha lúa mùa, tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng tại thời điểm trên, các địa phương trên toàn tỉnh đã gieo trồng được: Ngô 37.600 ha, tăng 0,56%, sản lượng ước đạt 35.646 tấn, tăng 5,93%; khoai lang 3.720 ha, tăng 0,35%, sản lượng ước đạt 64.210 tấn, tăng 16,54%; đậu tương 218 ha, tăng 1,40%, sản lượng ước đạt 58 tấn, giảm 4,92%; lạc 2.090 ha, tăng 0,34%, sản lượng ước đạt 1.750 tấn, tăng 14,53%; rau các loại 14.010 ha, tăng 1,17%, sản lượng ước đạt 187.201 tấn, tăng 5,38%; đậu các loại 8.500 ha, tăng 0,71%, sản lượng ước đạt 2.693 tấn, tăng 8,33% so với cùng kỳ năm trước.

Ước 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng lương thực có hạt đạt 620.512 tấn, tăng 0,39% so với chính thức năm trước.

Diện tích cây lâu năm toàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước tính 392.169 ha, tăng 0,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích một số cây công nghiệp lâu năm chủ yếu là điều 26.250 ha, giảm 0,6%; cà phê 217.700 ha, tăng 0,02%; cao su 33.200 ha, tăng 0,15%; hồ tiêu 28.643 ha, giảm 0,56%. Sản lượng thu hoạch điều 40.850 tấn, tăng 4,8%; mủ cao su 24.200 tấn, tăng 4,21%; hồ tiêu 82.450 tấn, tăng 4,74%. Sản lượng một số cây ăn quả tăng so với cùng kỳ năm trước: Xoài 6.710 tấn, tăng 4,78%; chuối 50.899 tấn, tăng 6,52%; sầu riêng 72.969 tấn, tăng 13,27%; chanh leo 13.600 tấn, tăng 1,85%...

Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước([1]). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát([2]). Ước số lượng đàn trâu 28.779 con, giảm 4,11% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 385.314 con, giảm 3,11%; đàn lợn 1.015.663 con, giảm 0,41%; đàn gia cầm 22.638 nghìn con, giảm 2,67%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng: Trâu 1.837 tấn, tăng 4,49%; bò 20.788 tấn, tăng 3,37%; lợn 124.223 tấn, tăng 6,24%; gia cầm 518.573 tấn, tăng 5,94%; trứng gia cầm 451,66 triệu quả, tăng 5,68%.

b) Lâm nghiệp

 Diện tích rừng trồng mới tập trung 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.725 ha, tăng 5,05%. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 1,5 nghìn cây, tăng 7,1%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 827.982 m³, tăng 5,05%. Sản lượng củi đạt 467.395 ste, tăng 5,0%.

Diện tích rừng bị thiệt hại của cả tỉnh 6 tháng đầu năm là 76,14 ha, giảm 37,88% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích rừng bị chặt, phá là 76,14 ha, giảm 37,88%; diện tích rừng bị cháy là 0 ha. Toàn tỉnh đã xảy ra 429 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 275 vụ phá rừng. Tang vật vi phạm gồm: Phương tiện, máy móc, công cụ tạm giữ 117 loại; gỗ các loại 145,9 m3.

c) Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 67.108 tấn, tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 52.305 tấn, tăng 3,36%; tôm đạt 7.430 tấn, tăng 6,92%; thuỷ sản khác đạt 7.373 tấn, tăng 26,92%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm ước đạt 16.978 tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 9.029 tấn, tăng 5,42%, tôm đạt 6.965 tấn, tăng 5,38%; thuỷ sản khác đạt 985 tấn, tăng 5,42%.

Sản lượng thủy sản khai thác được 50.130 tấn, tăng 6,08%, bao gồm: Cá đạt 43.277 tấn, tăng 2,94%; tôm đạt 465 tấn, tăng 37,06%; thuỷ sản khác đạt 6.388 tấn, tăng 31,04%.

d) Phát triển nông thôn

Đến nay, lũy kế toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới; qua rà soát sơ bộ tại 88 xã, toàn tỉnh đạt 224/880 tiêu chí, bình quân 2,55 tiêu chí/xã([3]). Chương trình OCOP tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông thôn và quảng bá sản phẩm đặc trưng của tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 762 sản phẩm OCOP của 374 chủ thể; trong đó có 02 sản phẩm 5 sao, 60 sản phẩm 4 sao, 603 sản phẩm 3 sao và 97 sản phẩm hết hạn.

3. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 ước tính tăng 14,04% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 12,82%; Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,72%; Chỉ số ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,81%; Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,90%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu so với cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng khác đạt 1.170,3 nghìn m³, tăng 15,17%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên đạt 844,8 triệu viên, tăng 33,52%; vỏ bào, dăm gỗ đạt 102.341,0 tấn, tăng 9,98%; cá ngừ đóng hộp đạt 4.003,1 tấn, tăng 27,23%; cà phê bột các loại đạt 31.835,8 tấn, tăng 24,59%; hạt điều khô đạt 50.949,6 tấn, tăng 6,25%; bia đóng chai đạt 39.859,8 nghìn lít, tăng 5,56%; gạch xây dựng bằng đất sét nung đạt 112.255,6 nghìn viên, tăng 15,56%; bộ com-lê, quần áo đồng bộ… đạt 9.655,9 nghìn cái, tăng 9,85%; điện sản xuất đạt 4.840,2 triệu kWh, tăng 27,83%([4]); điện thương phẩm đạt 2.122,8 triệu kWh, tăng 5,73%; nước uống được đạt 31.608,0 nghìn m³, tăng 10,59%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế đạt 78.057,6 triệu đồng, tăng 5,39%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm 2026 tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2026 tăng 6,36% so với tháng trước và giảm 4,51% so với cùng thời điểm năm trước. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 giảm 0,32% so với cùng kỳ năm trước.

4. Số lượng đăng ký doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng cao nhờ “động lực” của Nghị quyết 68 và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 1.991 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 16.200 tỷ đồng (tăng 34,53% về số doanh nghiệp nhưng giảm 28,92% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), có 442 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 29,62%). Bình quân 01 tháng có 406 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 33,61% so với cùng kỳ năm trước

 Bên cạnh đó, có 428 doanh nghiệp giải thể (tăng 98,15%) và 1.209 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 12,26%) so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có 273 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 26,60% so với cùng kỳ năm trước.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạo

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 cho thấy có 42,22% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh thuận lợi hơn so với quý trước; 42,22% số doanh nghiệp cho rằng tình hình ổn định và 15,56% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý III/2026, có 34,44% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ thuận lợi hơn so với quý II/2026; 47,78% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh ổn định và 17,78% số doanh nghiệp cho rằng sẽ gặp khó khăn hơn.

5. Hoạt động thương mại, vận tải, du lịch 6 tháng đầu năm nay duy trì đà tăng trưởng khá, thị trường hàng hóa ổn định, nguồn cung dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng. Nhiều chương trình khuyến mại, hội chợ và sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức, góp phần kích cầu tiêu dùng và thu hút du khách. Đặc biệt, việc Buôn Ma Thuột được National Geographic vinh danh là một trong 15 điểm đến ẩm thực tuyệt vời nhất thế giới năm 2026 đã góp phần nâng cao hình ảnh và sức hút du lịch của tỉnh.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 105.130,4 tỷ đồng, tăng 15,74% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 86.912,4 tỷ đồng, tăng 15,05%; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 11.903,6 tỷ đồng, tăng 19,78%; Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 85,5 tỷ đồng, tăng 41,37%; Dịch vụ khác đạt 6.228,9 tỷ đồng, tăng 17,70% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 5.796,5 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách đạt 1.656,7 tỷ đồng, tăng 16,01%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 3.462,8 tỷ đồng, tăng 14,32%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 361,5 tỷ đồng, tăng 18,95%; bưu chính chuyển phát đạt 315,5 tỷ đồng, tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước.

Vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 15.034 ngàn lượt hành khách và 2.031 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,67% về khối lượng vận chuyển và tăng 14,23% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 9.196 nghìn tấn và 2.858 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,23% về khối lượng vận chuyển và tăng 12,12% về khối lượng luân chuyển.

Tổng lượt khách du lịch đến Đắk Lắk 6 tháng đầu năm nay ước đạt 5.330.000 lượt khách, tăng 37,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: có 78.500 lượt khách quốc tế, tăng 34,65%([5]). Riêng số lượt khách do các cơ sở lưu trú trên địa bàn phục vụ đạt 3.447.425 lượt, tăng 21,33%, trong đó lượt khách ngủ qua đêm là 2.481.834 lượt, tăng 21,72%; khách trong ngày là 965.591 lượt, tăng 20,33%. Lượt khách theo tour do đơn vị du lịch lữ hành phục vụ là 22.671 lượt, tăng 85,58%, trong đó khách đi trong nước là 22.671 lượt, tăng 108,22%.

6. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 27.174,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn nhà nước đạt 8.588,6 tỷ đồng, giảm 5,14%; vốn ngoài nhà nước đạt 18.297,8 tỷ đồng, tăng 11,38%([6]); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 288,1 tỷ đồng, giảm 73,19% so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến hết ngày 30/6/2026, các đơn vị, chủ đầu tư đã giải ngân 2.664,6 tỷ đồng, đạt 27,91% KH địa phương giao, đạt 28,92% KH Thủ tướng Chính phủ giao.

Tỉnh đã công bố danh mục 257 dự án thu hút đầu tư giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn đầu tư khoảng 1.032 nghìn tỷ đồng, tạo cơ sở để các nhà đầu tư nghiên cứu, khảo sát và đề xuất phương án đầu tư phù hợp.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 29 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 25.808 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 33 dự án, trong đó có 09 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký tăng thêm hơn 1.133,4 tỷ đồng, góp phần huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, bổ sung năng lực sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

7. Các hoạt động xây dựng của tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị, thủy lợi và hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; đồng thời đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân các công trình, dự án trọng điểm.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất (giá so sánh 2020) đạt 15.754,7 tỷ đồng, tăng 7,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xây dựng nhà các loại đạt 6.749,3 tỷ đồng, giảm 0,02% so với cùng kỳ năm trước; xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng đạt 8.216,0 tỷ đồng, tăng 9,51% và hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 789,4 tỷ đồng, tăng 74,97%.

Một số công trình trọng điểm đóng góp lớn vào giá trị sản xuất ngành xây dựng 6 tháng đầu năm nay: Dự án thành phần 3 cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột giai đoạn 1, tuyến đường Cảng Bãi Gốc – KKT Nam Phú Yên – QL1 – KKT Vân Phong; tiểu dự án WEIDAP-ADB8, hồ chứa nước Yên Ngựa, hệ thống trạm bơm và thủy lợi Dur Kmăl, hồ Krông Pắc thượng giai đoạn 2 và hệ thống kênh mương hồ Ea H’Leo 1…

8. Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước; chi ngân sách Nhà nước giảm 13,17%, cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị.

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.945,7 tỷ đồng, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa đạt 8.846,0 tỷ đồng, tăng 3,19%, chiếm 98,89% tổng thu; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 87,4 tỷ đồng, giảm 8,78%; thu viện trợ đạt 12,3 tỷ đồng, tăng 12,42%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước ước đạt 23.078,6 tỷ đồng, giảm 13,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên đạt 15.184,0 tỷ đồng, giảm 7,47%, chiếm 65,79% tổng chi; chi đầu tư phát triển đạt 7.891,5 tỷ đồng, giảm 22,38%, chiếm 34,19% tổng chi.

9. Các hoạt động ngân hàng, tín dụng có tốc độ tăng trưởng tốt, đáp ứng nhu cầu huy động vốn và cho vay kịp thời phát triển kinh tế tại địa phương. Tỷ lệ tham gia BHYT duy trì ở mức cao, gần hoàn thành kế hoạch năm.

Tổng nguồn vốn huy động 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 177.350 tỷ đồng, tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; dư nợ cho vay ước đạt 281.300 tỷ đồng, tăng 16,00%; nợ xấu toàn tỉnh ước khoảng 2.800 tỷ đồng, dưới 1% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 15.850 tỷ đồng, tăng 15,42% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.218,0 tỷ đồng, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTN là 5.281,3 tỷ đồng, tăng 7,19%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.695.000 người, đạt 99,10%, tăng 5,44%.

10. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 6 tháng năm 2026 ước đạt 2.157 triệu USD, tăng 6,35%; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 997 triệu USD, giảm 1,32% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.577 triệu USD, đạt 53,99% kế hoạch, tăng 3,80% so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản duy trì ở mức cao, góp phần làm kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, vượt kế hoạch đề ra.

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 580 triệu USD, đạt 66,67% kế hoạch, tăng 13,95% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.

 


 

11. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

bình quân 6 tháng đầu năm tăng cao

so với cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng của kinh tế thế giới, giá xăng dầu biến động liên tục đã làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên vật liệu sản xuất kéo theo giá tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu tăng; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở, đặc biệt là cát, đá, gạch tăng cao do nguồn cung giảm.

 


a) Chỉ số giá tiêu dùng

Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,99%. Có 10/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 12,18%. Chỉ có 01 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 1,50% so với cùng kỳ năm trước.

b) Chỉ số giá vàng, giá đô la Mỹ

Giá vàng trong nước 6 tháng đầu năm 2026 biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la tăng là do tình hình chính trị căng thẳng ở một số quốc gia lớn trên thế giới. Sức mua của loại hàng hóa này cũng ở mức bình thường. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, giá vàng tăng 61,28%; giá đô la Mỹ tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước.

II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI

1. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước 6 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước, thị trường lao động của tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực. Cùng với sự phục hồi của hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự phát triển của các ngành kinh tế, số người có việc làm đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp vẫn có xu hướng tăng, phản ánh áp lực của thị trường lao động trong bối cảnh nguồn cung lao động tăng nhanh và quá trình chuyển dịch việc làm diễn ra mạnh mẽ.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.642,92 nghìn người, tăng 30,40 nghìn người (tăng 1,89%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lực lượng lao động khu vực thành thị chiếm 27,45%, tăng 6,78%; khu vực nông thôn tăng 0,15%. Chia theo giới tính, lực lượng lao động nam chiếm 53,51%, tăng 1,00%; lực lượng lao động nữ tăng 2,92%.

Số người có việc làm từ 15 tuổi trở lên ước đạt 1.610,99 nghìn người, tăng 25,26 nghìn người (tăng 1,59%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lao động có việc làm ở khu vực thành thị chiếm 27,27%, tăng 7,07%; khu vực nông thôn giảm 0,32%. Chia theo giới tính, lao động nam chiếm 53,40%, giảm 0,16%; lao động nữ tăng 3,68%.

Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, với tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm, trong khi tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng so với cùng kỳ năm trước. Lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 58,63% tổng số lao động có việc làm, giảm 3,29 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 14,09%, tăng 0,75 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 27,28%, tăng 2,54 điểm phần trăm.

Thu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương ước 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8.353 nghìn đồng, tăng 367 nghìn đồng (tăng 4,60%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động nam có thu nhập bình quân gấp 1,14 lần mức thu nhập bình quân của lao động nữ; lao động làm việc tại khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân gấp 1,22 lần so với khu vực nông thôn.

Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động 6 tháng đầu năm ước đạt 1,94%, tăng 0,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tình trạng thiếu việc làm vẫn còn xảy ra ở một bộ phận lao động nông thôn, lao động thời vụ và lao động chưa qua đào tạo nghề. Bên cạnh đó, sự chênh lệch giữa yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và trình độ, kỹ năng của người lao động, cùng với khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của một số doanh nghiệp, tiếp tục ảnh hưởng đến việc làm của người lao động.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các chính sách về lao động, việc làm, góp phần hỗ trợ tạo việc làm và phát triển thị trường lao động. Ước tính toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 27.600 người, tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó có khoảng 1.750 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tăng 16,66%. Công tác hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm tiếp tục phát huy hiệu quả. Ngân hàng Chính sách xã hội đã giải quyết cho 12.306 dự án vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm với tổng số tiền 880,1 tỷ đồng, góp phần tạo việc làm cho 12.306 lao động (trong đó có 5.612 lao động nữ); đồng thời hỗ trợ 41 người vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với tổng số tiền 3,2 tỷ đồng.

Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp được triển khai hiệu quả. Trung tâm Dịch vụ việc làm đã tư vấn việc làm, nghề nghiệp và chính sách cho 43.670 lượt người, giới thiệu việc làm cho 3.850 lượt người; tham mưu ban hành 7.955 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả hơn 161 tỷ đồng, đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề cho 750 người.

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống của các hộ dân cư trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định; các chính sách an sinh xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Công tác bảo trợ xã hội, chăm sóc các nhóm yếu thế và bảo vệ trẻ em tiếp tục được thực hiện đúng đối tượng. Duy trì trợ giúp xã hội thường xuyên cho 157.814 đối tượng, kinh phí gần 110,7 tỷ đồng/tháng. Toàn tỉnh quản lý hơn 128 nghìn hồ sơ người có công; hơn 17 nghìn lượt đối tượng hưởng trợ cấp hằng tháng với kinh phí hơn 52 tỷ đồng/tháng.

Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã thăm, tặng quà người có công và gia đình chính sách với tổng kinh phí hơn 43,4 tỷ đồng. Đồng thời, thực hiện tặng quà cho 169.000 đối tượng bảo trợ xã hội, hưởng trợ cấp hưu trí xã hội và các đối tượng khác với tổng kinh phí hơn 71,2 tỷ đồng. Bên cạnh đó, hoàn thành “Chiến dịch Quang Trung”, sửa chữa 892/892 nhà hư hỏng nặng và xây dựng mới 606/606 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi bảo đảm người dân có nhà ở ổn định để đón Tết.

UBND tỉnh tổ chức Lễ khởi công xây dựng 100 nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp phòng tránh lũ giai đoạn 1, phấn đấu hoàn thành trước ngày 15/9/2026, kịp thời phục vụ công tác ứng phó trong mùa mưa lũ.

3. Giáo dục - Đào tạo

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục được tỉnh quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả tích cực. Chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được khẳng định với 114 học sinh đạt giải tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT năm học 2025 – 2026([7]). Tỉnh đã tổ chức khởi công xây dựng các Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở (tại xã Ea Rốk và xã Ea Bung).

 Hệ thống cơ sở giáo dục do địa phương quản lý gồm 1.378 cơ sở([8]), với 38.089 cán bộ quản lý, giáo viên và 711.235 học sinh, học viên. Tính đến tháng 6/2026, tỉnh có 838/1.351 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 62%, tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt khoảng 83,5%. Các chỉ tiêu huy động học sinh đến trường tiếp tục duy trì ở mức cao([9]).

Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2026 trên địa bàn tỉnh có 64 điểm thi chính thức, 55 điểm thi dự phòng; 1.500 phòng thi chính thức phân bổ đều tại các địa phương. Tổng số thí sinh đăng ký dự thi là 35.500 thí sinh, bao gồm: 33.857 thí sinh lớp 12 và 1.643 thí sinh tự do.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong 6 tháng đầu năm 2026, các cơ sở y tế đã khám hơn 1,5 triệu lượt người, điều trị nội trú cho gần 187 nghìn lượt và điều trị ngoại trú cho hơn 56 nghìn lượt. Số giường bệnh đạt 31,5 giường/vạn dân; số bác sĩ đạt 9,06 bác sĩ/vạn dân. Công tác y tế dự phòng tiếp tục được triển khai; toàn tỉnh ghi nhận 1.284 ca mắc bệnh tay chân miệng, 872 ca mắc bệnh sốt xuất huyết, 217 ca mắc bệnh thủy đậu, 04 ca mắc bệnh sởi, 02 ca mắc viêm não mô cầu (trong đó có 01 trường hợp tử vong), 02 ca mắc bệnh dại (02 trường hợp tử vong) và không có ca mắc viêm não Nhật Bản.

Tích lũy đến nay (kể từ khi phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên trên địa bàn tỉnh) có 2.418 ca nhiễm HIV, trong đó 722 bệnh nhân HIV tử vong.

Đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc cho người dân giai đoạn 2026 – 2030([10]) thực hiện tại 4 địa phương trong tháng 6/2026 và triển khai đồng loạt từ ngày 01/7/2026.

Về ngộ độc thực phẩm, trong 6 tháng đã xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm với 92 người mắc và nhập viện điều trị, không có trường hợp tử vong; so với cùng kỳ năm trước, giảm 01 vụ nhưng tăng 78 người mắc.

5. Các hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, sôi nổi, bám sát nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng của đất nước và của tỉnh.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động phục vụ Tết Nguyên đán, kỷ niệm các ngày lễ lớn, tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; đồng thời tổ chức các chương trình nghệ thuật, triển lãm chuyên đề, hoạt động trải nghiệm văn hóa. Tỉnh đang tập trung chuẩn bị tổ chức Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 và Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 10 năm 2027.

Thể thao thành tích cao tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Tỉnh duy trì đào tạo, huấn luyện 18 môn với 478 vận động viên; tính đến ngày 03/6/2026, các vận động viên của tỉnh đạt 102 huy chương (gồm 20 huy chương vàng, 31 huy chương bạc và 51 huy chương đồng) tại các giải quốc tế, quốc gia và khu vực.                

6. Tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục giảm ở cả ba tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương

Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, toàn tỉnh xảy ra 223 vụ tai nạn giao thông, làm 176 người chết, 104 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 21,48%; số người chết giảm 15,79% và số người bị thương giảm 40,91%.

7. Thiên tai, vi phạm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương.

Thiệt hại do thiên tai: Tính đến ngày 25/6/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ thiên tai; làm 01 người chết, 01 người bị thương; 85 căn nhà bị hư hại; 29 ha lúa và 11,8 ha hoa màu bị thiệt hại. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai ước tính khoảng 2.859 triệu đồng. Các địa phương đã chủ động triển khai các phương án phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai; kịp thời hỗ trợ người dân ổn định đời sống và khôi phục sản xuất tại các khu vực bị ảnh hưởng.

Vi phạm môi trường: Tính chung từ 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 70 vụ vi phạm môi trường, xử lý 65 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.319,0 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm được phát hiện tăng 18,64%; số vụ đã xử lý tăng 44,44%; số tiền xử phạt giảm 54,15%.

Cháy, nổ: Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, toàn tỉnh xảy ra 22 vụ cháy, nổ, làm 04 người chết, 01 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 4.145,9 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ gấp 2,4 lần, số người chết tăng 04 người, số người bị thương không thay đổi, giá trị tài sản thiệt hại gấp 4,5 lần./.

https://thongkedaklak.nso.gov.vn/

Lấy link copy
In Gửi Email

Bài viết liên quan

CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC